
Báo Tiếng Dân số 675 ra ngày 21/3/1934. Ảnh: internet
Từ nhà tù trở về, tiếp tục dấn thân vì dân, vì nước
Sau 13 năm bị thực dân Pháp giam cầm, năm 1921, cụ Huỳnh Thúc Kháng được trả tự do. Trở về quê hương, Cụ tiếp tục hoạt động yêu nước bằng những hình thức phù hợp với hoàn cảnh mới. Trong giai đoạn 1921 - 1943, trên cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ nhiệm, chủ bút báo Tiếng Dân, Cụ tích cực đấu tranh đòi dân quyền, dân sinh, cải cách chính trị và bảo vệ lợi ích dân tộc.
Nếu phong trào Duy Tân trước đó là nơi Cụ cùng các sĩ phu yêu nước khơi dậy tinh thần canh tân, mở mang dân trí và dân sinh, thì bước sang giai đoạn mới, nghị trường trở thành một diễn đàn công khai để cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục đấu tranh cho những quyền lợi thiết thực của Nhân dân.
Cụ sử dụng nghị trường làm diễn đàn công khai để nêu những vấn đề của Nhân dân, yêu cầu chính quyền thực dân thay đổi chính sách cai trị. Cụ và các dân biểu tiến bộ đề xuất ban hành hiến pháp, mở rộng quyền tự do dân chủ, bảo vệ quyền lợi Nhân dân, đồng thời phản đối những chính sách kinh tế, xã hội bất hợp lý của chính quyền thực dân và Nam triều.
Về “lập hiến”, Cụ đề xuất phân định quyền hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; mở rộng quyền hạn của Viện Dân biểu; trao quyền bầu cử cho người đóng thuế; xây dựng Thượng viện và Hạ viện. Dù vẫn nằm trong khuôn khổ chế độ bảo hộ, những đề xuất ấy cho thấy rõ yêu cầu cải tổ cơ cấu cai trị và mở rộng quyền tham gia chính trị của người dân.
Nhận rõ những giới hạn của Viện Dân biểu và sự can thiệp của chính quyền thực dân, Cụ từ chức năm 1928. Hoạt động nghị trường của cụ Huỳnh Thúc Kháng thể hiện tinh thần đấu tranh công khai, thẳng thắn và ý thức bảo vệ quyền lợi Nhân dân.
Biến báo chí thành diễn đàn của dân quyền, dân sinh
Rời nghị trường không có nghĩa là dừng lại trên con đường đấu tranh. Với cụ Huỳnh Thúc Kháng, báo chí trở thành một phương tiện đặc biệt quan trọng để truyền bá tư tưởng, phản ánh đời sống xã hội và đưa tiếng nói của Nhân dân đến với công luận.
Cùng với hoạt động nghị trường, cụ Huỳnh Thúc Kháng đặc biệt coi trọng hoạt động báo chí. Ngày 10/8/1927, Tiếng Dân ra số đầu tiên, do Cụ làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tờ báo tồn tại liên tục 16 năm, từ năm 1927 đến năm 1943, với 1.766 số.
Ngay từ đầu, Tiếng Dân xác lập tôn chỉ cải cách, không xu phụ nhà cầm quyền và giữ tiếng nói độc lập. Báo tập trung phản ánh những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội, nhất là tình trạng áp bức, bóc lột, thuế khóa, kinh tế, xã hội và những bất công đối với Nhân dân.
Một trong những điểm nổi bật trong quan niệm làm báo của cụ Huỳnh Thúc Kháng là đề cao tính xác thực và trách nhiệm trước công chúng.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng yêu cầu thông tin phải được điều tra, xác minh; sai thì sửa, nhưng những vấn đề đã được kiểm chứng thì dù chịu sức ép vẫn kiên quyết đăng.
Tinh thần đó đã tạo nên bản sắc của Tiếng Dân: không né tránh những vấn đề gai góc của xã hội, không xu phụ quyền lực và kiên trì bảo vệ tiếng nói chính đáng của Nhân dân.
Đưa tiếng nói của người bị áp bức đến với công luận
Năm 1933, khi thực dân Pháp lập nhà đày Buôn Ma Thuột, các tù chính trị bí mật gửi bài cho báo chí để tố cáo chế độ tù đày. Tiếng Dân đăng những bài viết này, tạo điều kiện để tiếng nói của người bị đàn áp đến với dư luận.
Trong thời kỳ vận động dân chủ 1936 - 1939, báo tiếp tục phản ánh, cổ vũ các yêu cầu về dân sinh, dân chủ; đăng bài của những nhân vật tiến bộ, trong đó có nữ nhà báo, nhà văn Pháp A. Viôlít, phê phán chế độ cai trị và tình trạng nhân dân Đông Dương bị áp bức, bóc lột.
Không chỉ phản ánh những vấn đề xã hội, Tiếng Dân còn trở thành diễn đàn thể hiện nhiều yêu cầu cải cách cụ thể, từ chính thể, dân quyền đến giáo dục, y tế, kinh tế và đời sống người lao động.
Ngày 14/9/1936, cụ Huỳnh Thúc Kháng công bố trên Tiếng Dân thư trả lời Ban Thường trực Dân nguyện Trung Kỳ, nêu thực trạng của nhân dân Trung Kỳ và các yêu cầu về chính thể, dân quyền, bầu cử, Thượng viện, Hạ viện, học vụ, y tế, báo giới, nông dân, lao động, tài chính, kinh tế và quan lại.
Bản thỉnh cầu hoàn chỉnh tháng 9/1936 thể hiện những nguyện vọng và quyền lợi thiết thực của đông đảo Nhân dân, đưa Tiếng Dân trở thành một diễn đàn quan trọng của phong trào vận động dân chủ.
Giữ tiếng nói độc lập giữa vòng kiểm soát của chính quyền thực dân
Ảnh hưởng ngày càng lớn của Tiếng Dân tất yếu khiến tờ báo trở thành đối tượng bị theo dõi, kiểm soát chặt chẽ.
Hoạt động của Tiếng Dân bị mật thám Pháp theo dõi chặt chẽ. Các báo cáo của chúng cho rằng báo chí tiếng Việt ở Trung Kỳ ngày càng có hoạt động tuyên truyền rộng, trong đó Tiếng Dân thường đăng bài chống chế độ nhà lao, chính quyền địa phương và có những bài mang khuynh hướng Mácxít.
Tuy nhiên, Tiếng Dân không phải cơ quan ngôn luận của một tổ chức cách mạng mà chủ yếu theo đường lối cải cách, phê phán những chính sách gây thiệt hại cho Nhân dân và yêu cầu thay đổi bằng phương pháp ôn hòa trong giới hạn của trật tự hiện hành. Chính vì vậy, tờ báo vừa duy trì tiếng nói độc lập, vừa thường xuyên chịu sự kiểm soát của chính quyền thực dân.
Trong bối cảnh ấy, việc giữ được tính độc lập của một tờ báo là điều không dễ dàng. Nhưng với cụ Huỳnh Thúc Kháng, đó không chỉ là nguyên tắc nghề nghiệp, mà còn là biểu hiện của khí tiết và trách nhiệm đối với xã hội.
Lên tiếng khẳng định chủ quyền Hoàng Sa
Một dấu ấn đặc biệt trong hoạt động báo chí của cụ Huỳnh Thúc Kháng là việc dùng Tiếng Dân để khẳng định chủ quyền quốc gia đối với Hoàng Sa.
Từ tháng 7/1938, trước tranh chấp Hoàng Sa giữa Pháp và Nhật, Tiếng Dân đăng loạt bài của Sử Bình Tử, tức cụ Huỳnh Thúc Kháng, khẳng định Hoàng Sa thuộc nước Nam.
Cụ viện dẫn các tư liệu lịch sử về đội Hoàng Sa, hoạt động khai thác hải vật của người Việt và đặc biệt là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn. Việc đưa vấn đề Hoàng Sa lên báo thể hiện rõ ý thức bảo vệ chủ quyền và trách nhiệm đối với lãnh thổ quốc gia.
Không chỉ là người làm báo, cụ Huỳnh Thúc Kháng còn để lại nhiều trước tác có giá trị về văn học và lịch sử.
Năm 1939, cụ Huỳnh Thúc Kháng xuất bản Thi tù tùng thoại, tập hợp thơ, ghi chép và suy ngẫm viết bằng chữ Hán trong thời gian ở Côn Đảo, sau được Cụ chép lại và dịch ra tiếng Việt. Tác phẩm chứa nhiều tư liệu về xã hội và các phong trào yêu nước, cách mạng đầu thế kỷ XX, đặc biệt là Đông du và Duy tân, có giá trị cả về văn học lẫn lịch sử.
Không để sự kiểm duyệt biến thành tự kiểm duyệt
Một trong những biểu hiện rõ nhất về bản lĩnh làm báo của cụ Huỳnh Thúc Kháng là cách Cụ ứng xử trước chế độ kiểm duyệt của chính quyền thực dân.
Tiếng Dân cũng phải chịu chế độ kiểm duyệt nghiêm ngặt: mỗi số báo phải nộp bản Quốc ngữ và bản dịch tiếng Pháp cho Phủ Khâm sứ Trung Kỳ trước khi xuất bản. Đào Duy Anh từng hỗ trợ cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch báo sang tiếng Pháp.
Có những bài biết chắc sẽ bị cắt nhưng Cụ vẫn đưa kiểm duyệt; phần bị cắt được để trống trên mặt báo để độc giả nhận biết sự can thiệp của nhà cầm quyền. Điều đó cho thấy Cụ chủ trương giữ tiếng nói độc lập, không biến sự kiểm duyệt của chính quyền thành sự tự kiểm duyệt của người làm báo.
Đó là một lựa chọn vừa nghề nghiệp, vừa mang tính khí tiết. Trong giới hạn ngặt nghèo của chế độ báo chí thuộc địa, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn tìm cách bảo vệ tối đa tiếng nói của người cầm bút và quyền được biết của công chúng.
Một tờ báo bị đình bản, nhưng tiếng nói không mất đi
Đầu những năm 1940, Tiếng Dân tiếp tục phản ánh tình hình quốc tế, Chiến tranh thế giới thứ hai và những tác động đối với Đông Dương.
Lo ngại về ảnh hưởng của Tiếng Dân và những hoạt động chính trị của cụ Huỳnh Thúc Kháng, thực dân Pháp đã đình bản Tiếng Dân ngày 24/4/1943. Cụ Huỳnh Thúc Kháng viết bài thơ Tiếng Dân bị đình bản ngày 24/4/1943 để ghi lại tâm trạng trước sự kiện này.
Sau 16 năm hoạt động, báo đã xuất bản 1.766 số, vượt xa mong muốn ban đầu của Cụ: “dầu ra được 5, 7 số mà chết cũng vui lòng”.
Mười sáu năm tồn tại của Tiếng Dân không chỉ được đo bằng số lượng 1.766 số báo đã xuất bản, mà còn bằng sức ảnh hưởng của một tiếng nói độc lập, bằng những vấn đề dân sinh, dân quyền được đưa ra công luận và bằng bản lĩnh của những người làm báo không chấp nhận cúi mình trước sức ép.
Từ nghị trường đến báo chí – nhất quán một mục tiêu vì Nhân dân
Từ nghị trường đến báo chí, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhất quán theo đuổi mục tiêu bảo vệ quyền lợi Nhân dân, đấu tranh cho dân quyền, dân sinh và cải cách xã hội.
Nếu Viện Dân biểu là nơi Cụ công khai chất vấn và yêu cầu nhà cầm quyền thay đổi chính sách, thì Tiếng Dân là diễn đàn để phản ánh đời sống, tố cáo bất công, bảo vệ người bị áp bức và khẳng định những vấn đề thuộc lợi ích dân tộc.
Qua hoạt động nghị trường, báo chí và trước tác, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục khẳng định bản lĩnh của một chí sĩ yêu nước, một trí thức có trách nhiệm và một nhà báo kiên định trước sự kiểm soát của chính quyền thực dân.
Nhìn lại chặng đường từ năm 1921 đến năm 1943, có thể thấy ở cụ Huỳnh Thúc Kháng một sự nhất quán hiếm có giữa tư tưởng và hành động. Dù ở nghị trường hay trên mặt báo, Cụ vẫn lựa chọn đứng về phía Nhân dân, bảo vệ những quyền lợi chính đáng của Nhân dân, đấu tranh cho dân quyền, dân sinh và những lợi ích lâu dài của dân tộc.
Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng là dịp để nhìn lại và trân trọng hơn những giá trị mà Cụ để lại. Với báo chí, đó là bài học về trách nhiệm xã hội, về sự thận trọng trong xác minh thông tin, về bản lĩnh giữ tiếng nói độc lập và về thái độ không khuất phục trước sức ép. Với mỗi cán bộ, đảng viên và người dân hôm nay, đó còn là bài học về tinh thần yêu nước, trách nhiệm với cộng đồng và ý thức đặt lợi ích của Nhân dân, của quốc gia, dân tộc lên trên hết.