
Hồ Chủ tịch và Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng trong Chính phủ đầu tiên. Ảnh: internet
Từ chí sĩ yêu nước đến người tham gia xây dựng chính quyền cách mạng
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, từ một chí sĩ yêu nước, nhà duy tân, nhà báo và nhà văn hóa, Cụ chuyển sang trực tiếp tham gia xây dựng chính quyền cách mạng, đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc, kháng chiến và kiến quốc.
Ngày 2/3/1946, tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I, Quốc hội chấp nhận sự từ chức của Chính phủ Liên hiệp lâm thời và trao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiệm vụ thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Khi giới thiệu thành phần Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ và đánh giá Cụ là “một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết”.
Việc lựa chọn cụ Huỳnh Thúc Kháng có ý nghĩa đặc biệt. Cụ không phải đảng viên cộng sản nhưng là một chí sĩ yêu nước lão thành, có uy tín rộng rãi trong Nhân dân, giới trí thức và nhiều tầng lớp xã hội. Sự tham gia của Cụ thể hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, trọng dụng nhân tài, tập hợp mọi lực lượng yêu nước của Chính phủ cách mạng, đồng thời góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chính quyền mới.
Góp phần xây dựng nền móng của chính quyền cách mạng
Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ Huỳnh Thúc Kháng phụ trách những lĩnh vực then chốt như tổ chức và củng cố chính quyền, xây dựng bộ máy hành chính, công chức, công vụ, pháp chế, hành chính, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự trị an và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước.
Trong hoàn cảnh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời, phải đối mặt với nhiều khó khăn đối nội và đối ngoại, Cụ phát huy uy tín, kinh nghiệm, trí tuệ và bản lĩnh để cùng Chính phủ từng bước xây dựng nền móng của chính quyền cách mạng.
Ngày 22/3/1946, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Minh Giám được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Phạm Khắc Hòe giữ chức Đổng lý Văn phòng Bộ. Việc kiện toàn nhân sự góp phần xây dựng bộ máy Bộ Nội vụ đáp ứng yêu cầu của chính quyền cách mạng trong điều kiện đất nước vừa giành độc lập.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng tham gia những nhiệm vụ đối ngoại quan trọng. Ngày 22/5/1946, Cụ được cử vào Ủy ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề phục vụ Hội nghị Fontainebleau. Với uy tín của mình, Cụ còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao tiếp xúc với các vị khách nước ngoài, trong đó có các tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc, góp phần nâng cao vị thế của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Ngày 27/5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Hội Liên Việt, được thành lập. Cụ Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm Hội trưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự.
Đây là một đóng góp quan trọng của Cụ trong việc mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc. Hội Liên Việt góp phần tập hợp rộng rãi nhân sĩ, trí thức, các tầng lớp xã hội, tổ chức chính trị, tôn giáo và những lực lượng yêu nước cùng tham gia kháng chiến, kiến quốc.
Tinh thần đoàn kết ấy cũng là một mạch xuyên suốt trong tư tưởng và hành động của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Dù ở cương vị nào, Cụ luôn đặt lợi ích chung của quốc gia, dân tộc lên trên những khác biệt về chính kiến, hướng tới mục tiêu cao nhất là bảo vệ nền độc lập và quyền lợi của Nhân dân.
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” – trọng trách đặc biệt trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng
Đặc biệt, ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 82/SL, ủy nhiệm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký thay Chủ tịch những công văn thường ngày và chủ tọa các phiên họp Hội đồng Chính phủ trong thời gian Người đi vắng.
Ngày 31/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán với Chính phủ Pháp và căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng:
“Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ dĩ bất biến ứng vạn biến.”
Từ ngày 31/5 đến 21/10/1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng vừa giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, vừa thay mặt Chủ tịch điều hành công việc thường ngày của Chính phủ, ký các công văn và chủ tọa các phiên họp Hội đồng Chính phủ.
Đây là trọng trách đặc biệt trong bối cảnh chính quyền cách mạng còn non trẻ, nền độc lập chưa vững chắc và các thế lực thù địch, phản động vẫn điên cuồng chống phá. Sự tín nhiệm ấy dựa trên uy tín, bản lĩnh và kinh nghiệm hơn 40 năm hoạt động yêu nước và cách mạng của Cụ.
Trong điều hành công việc, cụ Huỳnh Thúc Kháng luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên những khác biệt về chính kiến. Tinh thần ấy kế thừa nhất quán quan điểm Cụ từng thể hiện trên Tiếng Dân: đứng về phía Nhân dân, chống áp bức và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của họ.
Ngày 23/10/1946, trong Lời Tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao đóng góp của cụ Huỳnh Thúc Kháng thay mặt Chủ tịch điều hành công việc Chính phủ:
“Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh quyền Chủ tịch, sự săn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ”.
Vai trò của cụ Huỳnh Thúc Kháng vừa có ý nghĩa tập hợp đoàn kết, vừa là sự đóng góp thực chất vào việc xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng.
Giữa thời khắc gian nguy, vẫn sẵn sàng nhận nhiệm vụ
Cuối năm 1946, khi thực dân Pháp đẩy mạnh hoạt động quân sự và lộ rõ âm mưu xâm chiếm nước ta lần nữa, nguy cơ chiến tranh toàn quốc ngày càng cận kề, Bộ Nội vụ phải đảm nhiệm nhiều công việc cấp bách như tổ chức di chuyển, tản cư và bảo đảm hoạt động của các cơ quan Trung ương.
Đầu tháng 12/1946, phương án di chuyển các cơ quan Trung ương của Đảng, Chính phủ và Quốc hội được triển khai; Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ được giao chuẩn bị lộ trình, cơ sở sơ tán, tổ chức di chuyển và ổn định hoạt động của các cơ quan. Bộ Nội vụ đồng thời là đầu mối tổ chức tản cư của các cơ quan chính quyền, đoàn thể và Nhân dân.
Trong hoàn cảnh ấy, dù tuổi cao, sức yếu, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn nhận nhiệm vụ thay mặt Chính phủ đi kinh lý miền Trung. Cụ đến Quảng Ngãi để động viên đồng bào, chiến sĩ, truyền đạt chủ trương của Chính phủ và củng cố niềm tin vào cuộc kháng chiến.
Bộ Nội vụ ghi nhận Cụ “hăng hái nhận nhiệm vụ trở về tuyến lửa miền Trung để động viên đồng bào chiến sĩ ra sức chiến đấu, tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ”.
Trong chuyến đi, cụ Huỳnh Thúc Kháng lâm bệnh nặng. Trước lúc qua đời, Cụ vẫn gửi điện văn tạ từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, kêu gọi đồng bào, chiến sĩ tiếp tục chiến đấu, nhất định không để dân tộc Việt Nam một lần nữa rơi vào ách thực dân; đồng thời kêu gọi các đảng phái, tôn giáo đoàn kết chung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh để cứu nước.
Ngày 21/4/1947, cụ Huỳnh Thúc Kháng qua đời tại Quảng Ngãi khi đang thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ. Sự ra đi của Cụ là tổn thất lớn đối với cách mạng, Chính phủ, Nhân dân.
Nhưng di sản Cụ để lại không chỉ là những đóng góp trên cương vị Bộ trưởng hay người được ủy nhiệm điều hành công việc Chính phủ, mà còn là một tấm gương về khí tiết, lòng yêu nước, thương dân và tinh thần tận tụy với Tổ quốc.
Tấm gương về trách nhiệm của người trí thức trước vận mệnh dân tộc
Những tác phẩm cuối đời như Thư kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chiến và Chào vĩnh quyết cho thấy sự nhất quán trong tư tưởng của cụ Huỳnh Thúc Kháng.
Nếu Tiếng Dân từng là tiếng nói bênh vực Nhân dân, mở mang dân trí và củng cố tinh thần dân tộc, thì trong những ngày cuối đời, tiếng nói ấy trở thành lời hiệu triệu toàn dân đoàn kết chống giặc, bảo vệ nền độc lập. Tinh thần “đồng tâm nhất trí”, không phân biệt giai tầng, đảng phái để cùng bảo vệ Tổ quốc chính là sự phát triển cao nhất của tư tưởng đại đoàn kết mà Cụ theo đuổi suốt đời.
Cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng để lại một bài học sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức trước vận mệnh dân tộc: yêu nước phải gắn với hành động, thương dân phải thể hiện bằng việc làm, có chính kiến nhưng biết đặt lợi ích chung lên trên khác biệt, và khi Tổ quốc cần thì sẵn sàng nhận nhiệm vụ, dù tuổi cao, sức yếu.
Từ một chí sĩ yêu nước đến Bộ trưởng Bộ Nội vụ, từ người làm báo đến người được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao trọng trách điều hành công việc Chính phủ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong những năm đầu xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Đó là những giá trị làm nên nhân cách và sức sống lâu bền của một chí sĩ đã trọn đời vì nước, vì dân.